Định hướng phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Thực hiện Quyết định số 355/QĐ-TTg, ngày 25-2-2013, của Thủ tướng Chính phủ, Về việc phê duyệt điều chỉnh Chiến lược phát triển giao thông vận tải Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và các quy hoạch phát triển ngành giao thông vận tải (GTVT), trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước và cả xã hội đã dành sự quan tâm lớn cho đầu tư phát triển GTVT; trong đó, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông (KCHTGT) đã có bước phát triển mạnh mẽ. Chất lượng vận tải ngày càng được nâng cao, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần xóa đói, giảm nghèo, rút ngắn khoảng cách giữa các vùng, miền. Một số công trình giao thông hiện đại, như đường bộ cao tốc, cảng biển quốc tế, cảng hàng không quốc tế,... đã được đầu tư xây dựng đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, góp phần tạo diện mạo mới cho đất nước.
Tuy nhiên, thực tế hệ thống KCHTGT vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ, hiện đại và chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (tháng 1-2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua đã nhận định: “Kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển”. Một trong những định hướng phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, được Chiến lược xác định là: “Phát triển nhanh kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông. Hình thành cơ bản hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại là một đột phá chiến lược, là yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và cơ cấu lại nền kinh tế”(1).
Để triển khai thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 16-1-2012, Về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Nghị quyết đặt ra mục tiêu: “Tập trung huy động mọi nguồn lực để đầu tư giải quyết cơ bản những tắc nghẽn, quá tải, bức xúc và từng bước hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội tương đối đồng bộ với một số công trình hiện đại”.Trong đó, phát triển kết cấu hạ tầng là một trong bốn lĩnh vực trọng tâm, với yêu cầu:“Bảo đảm kết nối các trung tâm kinh tế lớn với nhau và với các đầu mối giao thông cửa ngõ bằng hệ thống giao thông đồng bộ, năng lực vận tải được nâng cao, giao thông được thông suốt, an toàn”(2).
Nhằm tiếp tục tạo nguồn lực để đầu tư, phát triển KCHTGT, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (tháng 1-2016) đã khẳng định chủ trương tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, trong đó quan tâm: “Đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại... bảo đảm hiệu quả tổng hợp và tính hệ thống, nhất là mạng lưới giao thông...”(3). Để có bước đột phá trong xây dựng KCHTGT, Nghị quyết Đại hội chỉ rõ: “Tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng các công trình lớn, quan trọng thiết yếu, nhất là tại các khu vực có tiềm năng phát triển và giải quyết các ách tắc, quá tải. Bảo đảm kết nối thông suốt giữa các trung tâm kinh tế lớn, các đầu mối giao thông cửa ngõ các tuyến có nhu cầu vận tải lớn. Quan tâm đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông tại các vùng khó khăn” (4).
Các nghị quyết, chiến lược của Đảng nêu trên vừa là mục tiêu, vừa là định hướng cho ngành GTVT đối với việc phát triển KCHTGT.
Thực trạng đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông
Cụ thể hóa các quan điểm, định hướng chỉ đạo của Đảng về phát triển KCHTGT đồng bộ, hiện đại, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 355/QĐ-TTg và điều chỉnh quy hoạch phát triển GTVT của năm chuyên ngành: đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng không, hàng hải. Trong đó, quy hoạch các công trình giao thông hiện đại, kết nối đồng bộ gồm: 1- Mạng lưới đường bộ cao tốc quốc gia để kết nối với các trung tâm kinh tế trọng điểm Bắc - Nam, các cửa khẩu, các cảng hàng không, các cảng biển quốc tế, các tuyến đường vành đai đô thị có nhu cầu vận tải lớn, với tổng chiều dài 6.411km; 2- Tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và hệ thống đường sắt đô thị tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh; 3- Các cảng biển cửa ngõ quốc tế tại khu vực Bắc - Trung - Nam (cảng Lạch Huyện, cảng Vân Phong và cảng Cái Mép - Thị Vải); 4- Quy hoạch mạng đường bay theo mô hình nan quạt với tần suất khai thác cao, với 2 đầu cuối hiện đại tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; 5- Quản lý giao thông đô thị khoa học, sử dụng công nghệ hiện đại thông qua hệ thống ca-mê-ra, giao thông thông minh (ITS).
Bên cạnh việc đầu tư một số công trình bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, sau bảy năm triển khai thực hiện các nghị quyết, chiến lược, quy hoạch, hệ thống KCHTGT đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhiều công trình giao thông lớn, hiện đại đã và đang từng bước được đầu tư xây dựng, góp phần tạo diện mạo mới cho đất nước, tạo lập được sự kết nối giữa các vùng miền trong cả nước và với quốc tế.
Về đường bộ, đã đưa vào khai thác 1.041km đường cao tốc, đang đầu tư xây dựng hơn 160km, tiếp tục triển khai các thủ tục để đầu tư xây dựng thêm 654km đường cao tốc Bắc - Nam phía Đông (theo Nghị quyết số 52/2017/QH14, ngày 22-11-2017, của Quốc hội); 40km đường cao tốc đoạn thành phố Lạng Sơn - cửa khẩu Hữu Nghị (Đồng Đăng); 92km đường cao tốc Vân Đồn - Móng Cái. Về hàng không, đã có những bước phát triển đột phá về cả quy mô và chất lượng dịch vụ, đáp ứng kịp thời sự bùng nổ của nhu cầu vận tải hàng không trong giai đoạn vừa qua với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 16% - 18%/năm, đã nâng cấp các cảng hàng không Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng và xây dựng mới các cảng hàng không Phú Quốc, Vân Đồn, nâng tổng công suất mạng cảng hàng không đạt khoảng 90 triệu lượt hành khách/năm, tăng 2,5 lần so với năm 2011. Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1 đã được Quốc hội thông qua.
Link nội dung: https://itt.edu.vn/o-nuoc-ta-nganh-cong-nghiep-nao-can-duoc-uu-tien-di-truoc-mot-buoc-a23522.html