I/ ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ EM
1. Quan điểm về sự tăng trưởng và phát triển của trẻ em
Sự lớn khôn của đứa trẻ được diễn ra thông qua hai quá trình: tăng trưởng và phát triển:
- Tăng trưởng là quá trình trong đó các bộ phận của cơ thể có sự thay đổi về số đo (kích thước, khối lượng).
- Phát triển là quá trình trong đó có sự hình thành, hoàn thiện, phức tạp hoá các chức năng của con người và sự phát triển mang tính tổng thể.
Hai quá trình trên khác biệt, phụ thuộc vào nhau và diễn ra suốt quá trình trẻ phản ứng và thích ứng với những yếu tố bẩm sinh và điều kiện môi trường sống
Mọi trẻ đều tuân theo những giai đoạn tăng trưởng và phát triển nhất định về cơ thể (xương, răng, chiều cao, cân nặng, năng lực vận động, lẫy, bò, đi, chạy…) và về tâm lí - xã hội (phát triển ngôn ngữ, tư duy, tình cảm, quan hệ bạn bè…)
Trong quá trình tăng trưởng và phát triển của trẻ, cơ thể đạt đến một độ chín nhất định thì một năng lực, một chức năng tương ứng mới có cơ sở để hình thành.
Như vậy, phải đến một độ tuổi nào đó, trẻ mới có thể học nói, học vẽ. Và chỉ khi đó, việc luyện tập và giáo dục mới phát huy được vai trò chủ đạo của mình.
Việc tập luyện và giáo dục quá sớm hoặc quá muộn đều gây ra những hậu quả có hại cho sự phát triển lành mạnh của trẻ.
Tuy tất cả các trẻ đều tuân theo cùng một sơ đồ tăng trưởng và phát triển, nhưng mỗi trẻ lại tăng trưởng và phát triển một cách riêng biệt, tuỳ thuộc vào nhân tố di truyền, bẩm sinh, vào hoàn cảnh sống và giáo dục của gia đình và cộng đồng. Mỗi trẻ là một cá thể đơn nhất, không trẻ nào giống trẻ nào.
Sự tăng trưởng và phát triển của trẻ được coi là “bình thường” khi đáp ứng yêu cầu sau:
+ Phải xoay quanh một giá trị trung bình nằm trong một phạm vi có giới hạn nào đó thuộc số đông của nhóm đối chiếu.
+ Có nhịp độ, tốc độ và tiến triển cũng xoay quanh một giá trị trung bình.
+ Tăng trưởng và phát triển phải không mất cân đối (tâm lí và vận động phải hài hoà). Đây là yêu cầu hàng đầu về sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh của trẻ.
Trong những nhu cầu để phát triển của trẻ, có hai loại nhu cầu cơ bản: nhu cầu được yêu mến, được an toàn, chấp nhận trong gia đình và cộng đồng; nhu cầu được chơi, tìm hiểu môi trường xung quanh và nhu cầu tự bộc lộ suy nghĩ, tình cảm, thái độ…
Sự tăng trưởng và phát triển của trẻ diễn ra với một tốc độ rất nhanh, chưa từng có so với bất kì lứa tuổi nào tiếp theo sau đó. Trẻ càng nhỏ gia tốc của sự tăng trưởng và phát triển lại càng lớn.
2. Đặc điểm tăng trưởng và phát triển của trẻ em lứa tuổi nhà trẻ
Như đã trình bày ở trên lứa tuổi mầm non, đặc biệt ở độ tuổi nhà trẻ là giai đoạn phát triển với tốc độ cực kì nhanh chóng về sinh lí và tâm lí.
Trẻ càng nhỏ, gia tốc phát triển càng nhanh, mạnh, sau đó chậm dần lại. Dưới đây là một số đặc điểm tăng trưởng và phát triển của trẻ em lứa tuổi nhà trẻ:
2.1. Sự tăng trưởng và phát triển về thể chất
Đây là thời kì tăng trưởng và phát triển thể chất nhanh nhất trong cuộc đời, đặc biệt là trong năm đầu, ta có thể quan sát thấy từng ngày, từng tuần, từng tháng.
Lúc mới sinh trọng lượng trung bình của trẻ từ 3,0 đến 3,5kg. Ba tháng đầu, trung bình mỗi tháng tăng từ 600 - 900g (một số trẻ có thể tăng từ 1000 đến 1200g);
Chiều cao của trẻ tăng lên khá nhanh sau đó chậm lại: Lúc mới sinh chiều cao trung bình của trẻ chỉ vào khoảng 45 - 50cm, trong năm đầu mỗi tháng trung bình trẻ cao được từ 2 - 3cm/tháng, đến cuối năm đầu trẻ cao từ 75 - 80cm (gấp rưỡi so với sơ sinh).
Sang năm thứ hai, chiều cao của trẻ chỉ tăng khoảng 1cm/tháng. Sang năm thứ ba, chiều cao của trẻ chỉ tăng khoảng 0,5cm/ tháng.
Vòng đầu: lúc mới sinh chỉ vào khoảng 30-32cm, sau một tháng: 35-36cm. Sau đó chậm dần lại, đến tháng thứ 6 chỉ vào khoảng 42-43cm, tháng thứ 12 chỉ vào khoảng 45-46cm; cuối năm thứ hai chỉ vào khoảng 47-48cm; cuối năm thứ ba vào khoảng 48,5- 49,5cm.
2.2. Sự phát triển vận động
- Khả năng vận động của trẻ cũng được tiến triển rất nhanh ta có thể quan sát được từng tháng. Điều này đã được ông cha ta tổng kết: ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò bước đi…
- Cuối tuổi nhà trẻ, các vận động trườn, bò, chạy, nhảy ngày càng trở nên hoàn thiện. Đang chạy, trẻ có thể quay sang trái, sang phải được; trẻ có thể leo trèo, xoay tròn người trên hai mũi chân, nhảy chụm chân, nhảy lò cò, lên xuống cầu thang được.
- Sự kết hợp vận động của tay và chân trở nên dễ dàng và nhịp nhàng hơn. Ví dụ: trẻ có thể vận động theo nhạc (chân bước, tay múa theo nhạc)…
- Đôi tay càng trở nên linh hoạt: trẻ biết xoay tròn cổ khá thành thạo; tự mặc áo, đi giầy dép, cầm bút vẽ được… Trong cuộc sống trẻ hiếu động, đứng ngồi không yên: đào bới, tháo lắp, xếp dỡ…(bắt chước người khác là chính).
2.3. Sự phát triển đời sống tâm lí của trẻ
Tâm lí của trẻ trong 3 năm đầu cũng phát triển rất nhanh chóng. Dưới đây là một số dấu hiệu cơ bản:
Một là sự phát triển nhận thức. Cùng với hệ thống phản xạ là sự xuất hiện cảm giác. Lúc đầu là những cảm giác bất phân. Ví dụ: chưa phân biệt được người này với người kia, vật này với vật khác.
Trẻ nhận thức được thế giới xung quanh thông qua các giác quan: mắt nhìn phân biệt được hình thù, màu sắc; tai phân biệt được tiếng nói của người mẹ với người khác,... Cùng với sự xuất hiện cảm giác phân hoá là sự phát triển của trí nhớ: trẻ nhận ra được người lạ, người quen, nhận ra những đồ chơi quen thuộc và hoạt động có đối tượng được hình thành.
Tư duy trực quan hành động được hình thành và phát triển: Trong quá trình tiếp xúc với thế giới đồ vật, trẻ nhận ra được mối quan hệ giữa các đồ vật (hình dạng, kích thước…) qua thử và sai (bằng tay): xếp gỗ, lắp thử, đậy thử…;trẻ phân loại được đồ chơi (đồ vật) theo một dấu hiệu nào đó (màu sắc hoặc hình dạng…).
Hai là sự phát triển xúc cảm - tình cảm xã hội. Cuối tháng đầu tiên của cuộc đời, đứa trẻ đã mỉm cười với người lớn (phức cảm hớn hở). Thoạt đầu không có sự phân biệt lạ - quen: mỉm cười với tất cả những người nhìn nó âu yếm. Sau đó (6 - 7 tháng) trẻ bắt đầu phân biệt được người lạ - người quen (phân biệt được mẹ với người khác). Trẻ theo, chơi, chịu dỗ nín với những người quen.
Sang năm thứ hai và thứ ba, tình cảm của trẻ vẫn mang nặng màu sắc xúc cảm và gắn với những cảnh huống cụ thể, chưa ổn định (thoắt khóc, thoắt cười).
Ở tuổi này, trẻ vừa muốn lệ thuộc, kết giao với mọi người vừa muốn được độc lập: thích chơi với người lớn và trẻ em nhưng lại không muốn trẻ khác hay người lớn sử dụng đồ dùng, đồ chơi của mình (tâm lí cá nhân vị kỉ); thích một mình mò mẫm với đồ chơi.
Do vậy, trong cuộc sống hằng ngày, không nên tách trẻ ra khỏi mối quan hệ với người lớn và bạn bè, đồng thời cần phải phát huy tính độc lập của trẻ và giáo dục lòng hiếu thảo cho trẻ.
Như đã trình bày, tình cảm của trẻ còn mang nặng màu sắc xúc cảm. Do vậy trẻ thường bị lôi cuốn bởi sự hấp dẫn với vẻ bên ngoài của đồ vật. Ta có thể dễ dàng thay đổi sự chú ý, hứng thú của trẻ khi ta thay đổi đồ chơi, trò chơi hấp dẫn hơn.
Ba là sự phát triển ngôn ngữ. Sang tháng thứ 2 trẻ biết “hóng chuyện”, thích nhìn mặt người lớn khi nói chuyện. Chính điều này làm cho nhu cầu giao lưu ngôn ngữ của trẻ phát triển mạnh mẽ. Thoạt đầu là những hợp âm: “gừ, gừ” “âu, ơ” không thành tiếng khi giao tiếp với người lớn (phức cảm hớn hở).
Sau đó trẻ bắt chước người lớn phát âm vài từ dễ và quen thuộc: bà, ba,… Cuối năm đầu trẻ biết dùng ngôn ngữ nói kết hợp với cử chỉ để giao tiếp và yêu cầu người lớn giúp đỡ trẻ thoả mãn nhu cầu: đi chơi, ăn, uống…
Sang năm thứ 2, do tiếp xúc với thế giới đồ vật, nhu cầu giao tiếp phát triển làm cho vốn từ ngày một phong phú và khả năng phát âm của trẻ ngày càng tốt hơn. Trẻ không chỉ hiểu ngôn ngữ của người lớn (nghe, làm theo sự sai bảo...) mà còn nói được những câu đơn giản.
Thoạt đầu là câu một từ, dần là câu 2, 3 từ kết hợp với cử chỉ, hành vi để bày tỏ nhu cầu, mong muốn của mình với người lớn. Người mẹ (hoặc người trực tiếp nuôi dạy trẻ) mới hiểu mong muốn của trẻ.
Năm thứ 3, sự phát triển ngôn ngữ diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Cha ông ta đã tổng kết “Trẻ lên ba cả nhà học nói”. Đúng vậy, trẻ nói, hỏi luôn miệng.
Để thoả mãn nhu cầu giao tiếp của trẻ, người lớn phải luôn luôn tìm câu trả lời sao cho trẻ hiểu được. Người lớn không nên lảng tránh những câu hỏi của trẻ và cũng không nên trả lời một cách tuỳ tiện cho qua chuyện.
Qua giao tiếp với người lớn, vốn từ của trẻ ngày càng tăng. Trẻ có khả năng diễn đạt bằng lời để người lớn hiểu được ý muốn của mình.
Câu nói của trẻ đơn giản, ngắn gọn song thường đúng ngữ pháp. Và mọi giao tiếp của trẻ đã tách dần ra khỏi những tình huống, tâm cảnh (nghĩa là trẻ có thể giao tiếp hoàn toàn bằng lời).
Như vậy, mỗi thời kì, sự tăng trưởng và phát triển về thể chất, tâm lí của trẻ có những đặc điểm đặc trưng.
Nhà giáo dục cần phải nắm đặc điểm tăng trưởng và phát triển của trẻ trong từng thời kì để xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức chăm sóc và giáo dục thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc và giáo dục trẻ em.
3. Đặc điểm tăng trưởng và phát triển của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo
Nói đến sự tăng trưởng và phát triển của trẻ là nói đến sự thay đổi, phát triển về thể chất về phát triển vận động và tâm lí của trẻ.
Sự tăng trưởng và phát triển về thể chất
Sự tăng trưởng và phát triển vận động
Sự phát triển đời sống tâm lí của trẻ
3.1. Sự tăng trưởng và phát triển về thể chất
Sự phát triển thể chất diễn ra nhanh nhưng không đều:chiều cao diễn ra nhanh hơn trọng lượng, trẻ như gầy đi, mất vẻ tròn trĩnh đã có ở tuổi nhà trẻ. Lứa tuổi mẫu giáo trẻ cứng cáp hơn, sức đề kháng tăng, trẻ ít bệnh tật hơn so với tuổi nhà trẻ. Tuy nhiên, sự phát triển cơ thể ở lứa tuổi này chưa ổn định, không vì sự phát triển mất cân đối giữa chiều cao và trọng lượng mà tăng chế độ dinh dưỡng quá mức.
3.2. Sự tăng trưởng và phát triển vận động
Tuổi mẫu giáo, khả năng vận động của trẻ ngày càng hoàn thiện hơn. Trẻ có thể trườn, bò, leo trèo một cách linh hoạt ở mọi địa hình với sự phối hợp chính xác giữa tay và chân.
Trẻ đi, chạy, nhảy, ném, bắt, chuyền nhanh, chính xác, khéo léo với sự phối hợp của thị giác với vận động của tay, chân,…
Tuy nhiên khả năng làm việc của hệ thần kinh còn yếu, hệ xương của trẻ chưa hoàn toàn cốt hoá, hệ cơ còn yếu,… do vậy, việc tổ chức cho trẻ vận động mạnh, kéo dài dễ gây cho trẻ trạng thái mệt mỏi.
Việc thực hiện chế độ vận động hợp lí sẽ giúp quá trình phát triển cơ thể của trẻ tốt hơn.
3.3. Sự phát triển đời sống tâm lí của trẻ
Cùng với sự phát triển thể chất và khả năng vận động, đời sống tâm lí của trẻ mẫu giáo phát triển mạnh mẽ về chất so với lứa tuổi trước đó.
Sự phát triển tâm lí của trẻ mẫu giáo được thể hiện rõ ở những khía cạnh sau đây:
- Sự phát triển nhận thức:
Một là sự phát triển về hoạt động nhận cảm: Do các cơ quan phân tích phát triển và trở nên nhạy bén làm cho các chuẩn cảm giác (về màu sắc, hình dạng, kích thước, trọng lượng, âm thanh…) ngày càng trở nên chính xác, giúp trẻ định hướng không gian, thời gian tốt hơn; vốn biểu tượng về thế giới xung quanh ngày càng phong phú
Hai là sự phát triển nhận thức chính là sự phát triển tư duy, tưởng tượng. Nếu cuối tuổi nhà trẻ, đầu tuổi mẫu giáo tư duy trực quan hành động chiếm ưu thế thì sang tuổi mẫu giáo nhỡ, đặc biệt là mẫu giáo lớn tư duy trực quan hình tượng chiếm ưu thế.
Đến cuối tuổi mẫu giáo, tư duy lôgic ngày càng phát triển, trí tưởng tượng của trẻ ngày càng phong phú, trẻ tích cực sử dụng các kí hiệu tượng trưng (vật thay thế) để giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn.
Sự phát triển đời sống tình cảm.
Đời sống tình cảm của trẻ có những bước phát triển mạnh mẽ, sâu sắc và phong phú hơn lứa tuổi trước đó.Trẻ thèm khát sự trìu mến yêu thương và cũng rất sợ thái độ thờ ơ lạnh nhạt của những người xung quanh đối với mình.
Đồng thời trẻ bộc lộ tình cảm của mình đối với những người xung quanh cũng rất mạnh mẽ: yêu quý, nhường nhịn, quan tâm đến em bé; gắn bó, thân thiện với bạn bè,…
Tình cảm của trẻ còn được thể hiện qua thái độ của trẻ đối với vật nuôi, đồ dùng, đồ chơi và gắn chúng với những sắc thái tình cảm của con người.
Sự phát triển ngôn ngữ. Ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo có những bước phát triển vượt bậc về vốn từ, về ngữ pháp và ngôn ngữ mạch lạc. Vốn từ của trẻ ngày càng nhiều, phong phú về thể loại (danh từ, động từ, tính từ…).
Trẻ sử dụng khá thành thạo ngữ pháp tiếng mẹ đẻ.
Sự phát triển ngôn ngữ. Ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo có những bước phát triển vượt bậc về vốn từ, về ngữ pháp và ngôn ngữ mạch lạc. Vốn từ của trẻ ngày càng nhiều, phong phú về thể loại (danh từ, động từ, tính từ…). Trẻ sử dụng khá thành thạo ngữ pháp tiếng mẹ đẻ.
Tóm lại: Nhà giáo dục mầm non cần nắm vững được đặc điểm tăng trưởng và phát triển về thể chất, vận động và tâm lí của trẻ mẫu giáo để xây dựng nội dung, lựa chọn các phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động cho phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc, giáo dục trẻ em mẫu giáo.
II/ NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC TRẺ EM TRONG NHÓM, LỚP
1. Có phòng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em được xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố, an toàn, đủ ánh sáng tự nhiên, thoáng và sắp xếp gọn gàng; diện tích phòng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em bảo đảm ít nhất 1,5 m2 cho một trẻ em; có chỗ chơi, có hàng rào và cổng bảo vệ an toàn cho trẻ em và phương tiện phù hợp với lứa tuổi; những nơi có tổ chức ăn cho trẻ em phải có bếp riêng, an toàn, bếp đặt xa lớp mẫu giáo, nhóm trẻ; bảo đảm phòng chống cháy nổ và vệ sinh an toàn thực phẩm. Có đủ nước sạch dùng cho sinh hoạt và đủ nước uống hàng ngày cho trẻ em theo quy định.
2. Việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ được tiến hành thông qua các hoạt động theo quy định của chương trình giáo dục mầm non.
3. Hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ bao gồm: chăm sóc dinh dưỡng; chăm sóc giấc ngủ; chăm sóc vệ sinh; chăm sóc sức khoẻ và đảm bảo an toàn.
4. Hoạt động giáo dục trẻ bao gồm: hoạt động chơi; hoạt động học; hoạt động lao động; hoạt động ngày hội, ngày lễ.
5. Hoạt động giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật trong nhà trường, nhà trẻ tuân theo Quy định về giáo dục trẻ em tàn tật, khuyết tật do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
6. Việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ còn thông qua hoạt động tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em cho các cha mẹ trẻ và cộng đồng.
NỘI DUNG 2: HƯỚNG DẪN TỔ CHỨC CHẾ ĐỘ SINH HOẠT TRONG NHÓM , LỚP
I - NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN
Chế độ sinh hoạt là sự phân bổ hợp lí về thời gian và các hoạt động trong ngày ở trường mầm non, nhằm đáp ứng nhu cầu về tâm lý - sinh lý của trẻ, qua đó giúp trẻ hình thành thái độ sống, nề nếp, thói quen và những kỹ năng sống tích cực.Tùy theo điều kiện thực tế địa phương, tùy theo mùa, giáo viên có thể điều chỉnh thời gian biểu cho phù hợp, nhưng khi thực hiện, cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
1. Đảm bảo tính khoa học, hợp lí, vừa sức, phù hợp với nhịp điệu sinh học của trẻ theo từng lứa tuổi vá nhân trẻ. Nội dung hoạt động một ngày cần phong phú, đa dạng, gần gũi với cuộc sống thực của trẻ, đáp ứng mục tiêu phát triển của trẻ.
2. Phân phối thời gian thích hợp và có sự cân bằng giữa các hoạt động tĩnh và động, giữa hoạt động trong lớp và ngoài trời, giữa hoạt động chung cả lớp và hoạt động nhóm, cá nhân.
3. Đảm bảo trình tự hoạt động được lặp đi lặp lại, nhằm tạo nề nếp và hình thành những thói quen tốt cho trẻ.
4. Đảm bảo cho mọi trẻ được hoạt động tích cực và phù hợp với đặc điểm riêng của từng trẻ, tránh sự đồng loạt, gò bó, cứng nhắc.
5. Đảm bảo sự linh hoạt, mềm dẻo, nhằm đáp ứng các nhu cầu của trẻ đang trong thời kỳ lớn lên và phát triển, phù hợp với điều kiện từng vùng, miền , địa phương.
II - HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN
1. Đón trẻ:
a) Đón trẻ
Khi đón trẻ, cô phải nhẹ nhàng, dỗ dành và cho trẻ đồ chơi mà trẻ thích. Đối với những cháu mới đi học, một vài ngày đầu, cô nên gần gũi, tiếp xúc, làm quen với trẻ, khi có cả cha mẹ trẻ, sau đó đón, dẫn trẻ vào lớp. Đến khi trẻ đã quen với sinh hoạt của lớp, cô cho trẻ tự lấy đồ chơi theo ý thích.Trong giờ đón trẻ, cô giáo có thể trao đổi với PH về một số điều cần thiết để tiếp tục theo dõi, chăm sóc khi trẻ ở trường.Cô cho trẻ chơi tự do tại các góc hoặc cùng trẻ trò chuuyện (cá nhân hoặc nhóm). Nội dung trò chuyện là những điều liên quan đến chủ đề đang tiến hành, về bản thân trẻ và những sự kiện xảy ra hàng ngày xung quanh trẻ (thời tiết, những gì trẻ hứng thú…). Khi trò chuyện, cô giáo có thể gợi mở, nêu tình huống để trẻ trả lời, giúp trẻ rèn luyện và phát triển khả năng ứng xử, giao tiếp.
b) Thể dục sáng
Có thể cho trẻ tập trong nhà hoặc ngoài sân, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của phòng, lớp và thời tiết. Nên cho trẻ tập theo nhạc là tốt nhất. Nếu trường có sân rộng thì có thể bố trí cho toàn trường tập cùng một thời điểm, tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc với nắng và không khí trong lành.
c) Điểm danh
Giáo viên nên thực hiện việc điểm danh dưới nhiều hình thức, nhằm làm cho trẻ biết tên và quan tâm đến nhau. Cô có thể gọi lần lượt tên từng trẻ hoặc cô làm cho mỗi trẻ một thẻ tên - kí hiệu. Khi đến lớp trẻ tự cắm và gắn thẻ tên lên bảng thành những dãy theo tổ hoặc theo chữ cái đầu của tên. Sau đó, trẻ đếm thẻ tên để phát hiện trẻ vắng mặt hoặc cũng có thể cho trẻ trong tổ quan sát, phát hiện bạn vắng mặt.
2. Hoạt động có chủ định trong chế độ sinh hoạt hằng ngày
a) Thời gian tiến hành
Hoạt động của trẻ trong chế độ sinh hoạt hằng ngày được tổ chức dưới hình thức học có chủ định, có sự định hướng và hướng dẫn trực tiếp của giáo viên. Nội dung hoạt động có hệ thống, theo mục đích, kế hoạch đã được hoạch định trong kế hoạch tuần, phù hợp với các lĩnh vực nội dung giáo dục trong chương trình theo chủ đề.Trong thời gian biểu, thời gian tiến hành hoạt động học ở lớp mẫu giáo nhỡ (4 - 5 tuổi) có thể kéo dài trong khoảng từ 25 - 30 phút vào các buổi sáng trong ngày, sau thời điểm đón trẻ, không nên kéo dài qua 25 phút.
b) Nội dung thực hiện
Hoạt động học có chủ định được tiến hành với những nội dung thuộc các hoạt động: phát triển vận động và giáo dục dinh dưỡng sức khỏe; khám phá khoa học về thế giới tự nhiên, tìm hiểu xã hội; làm quen với tóan/ nghe kể chuyện/ đọc thơ/ kể chuyện sáng tạo; làm quen với đọc, viết; hoạt động tạo hình (vẽ, nặn, cắt, dán, xếp hình), âm nhạc(tập hát, vận động theo nhạc và nghe hát, nhạc).Nội dung các hoạt động phù hợp với các lĩnh vực giáo dục trong chương trình theo hướng tích hợp gắn với chủ đề.Với lớp đông trẻ và có 2 giáo viên, ở thời điểm này, tùy theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, cô có thể tách nhỏ thành 2 nhóm để dạy cùng một lúc hoặc tổ chức cho một nhóm trẻ học trong lớp, một nhóm chơi và học ngoài trời, sau đó đổi lại. Lưu ý, nếu tách thành các nhóm để dạy, giáo viên cần phải đảm bảo việc tổ chức cũng như các điều kiện thực hiện, phương pháp tiến hành hoạt động ở các nhóm là tương đương.
3. Thời điểm chơi, hoạt động ở các góc
a) Thời gian tiến hành
Thời gian tiến hành thời điểm này có thể kéo dài trong khoảng từ 35 - 40 phútTrong chế độ sinh hoạt hàng ngày, đây là thời điểm giáo viên tổ chức cho trẻ tham gia vào các trò chơi, nhóm chơi, hoạt động theo ý thích trong các khu vực (góc) hoạt động.Tùy thuộc vào điều kiện, thời tiết, thời điểm này có thể được tiến hành trước hay sau thời điểm chơi, hoạt động ngoài trời.
b) Nội dung thực hiện
Trong thời điểm này, trò chơi như trò chơi đóng vai, trò chơi lắp ghép, xây dựng là những trò chơi có vị trí trọng tâm. Cùng với đó, cô tạo điều kiện, khuyến khích trẻ tham gia vào các nhóm chơi, hoạt động theo ý thích mang tính sáng tạo như vẽ, nặn, cắt, dán, hát, múa, chơi ở góc tạo hình, âm nhạc và tham gia vào các góc hoạt động khác. Nội dung chơi ở thời điểm này được tổ chức gần với chủ đề.Trong thời gian này, cô nên chú ý tổ chức, đảm bảo nhu cần chơi, hoạt động theo ý thích của trẻ, hướng dẫn trò chơi phù hợp với độ tuổi. Cô cần chuẩn bị đủ đồ chơi, thời gian, không gian hoạt động thích hợp, đảm bảo an toàn với trẻ.Hằng ngày, cô nên chú ý quan sát, khuyến khích để trẻ được luân phiên tham gia vào các nhóm chơi khác nhau, các hoạt động khác nhau, không nên để trẻ chơi hoặc hoạt động ở một nhóm nào đó quá lâu trong một tuần.Với thời tiết nắng nóng, cô có thể tổ chức, tiến hành hoạt động bày sau thời điểm chơi và hoạt động ngoài trời.4. Chơi, hoạt động ngoài trời
Ở thời điểm này, giáo viên tổ chức cho trẻ chơi và tham gia vào các hoạt động ngoài phạm vi của lớp học với mục đích: Tạo điều kiện cho trẻ được tiếp xúc với không khí trong lành của thiên nhiên, rèn luyện sức khỏe; Thiết lập mối quan hệ giữa trẻ với môi trường xung quanh, góp phần mở rộng vốn hiểu biết của trẻ về môi trường tự nhiên - xã hội; Thỏa mãn nhu cầu chơi và hoạt động theo ý thích của trẻ. Thời gian tiến hành họat động này từ 35 - 40 phút và tùy thuộc vào điều kiện thời tiết để có thể tiến hành trước hay sau thời điểm chơi và hoạt động ở các góc.
a) Thời điểm tiến hành: Vào các buổi sáng trong tuần
b) Nội dung thực hiện:
Tùy thuộc vào nội dung của chủ đề trong tuần, điều kiện của trường, lớp, hoạt động ngoài trời có thể tiến hành với một số nội dung và với những hình thức hoạt động sau:- Chơi tự do nới các thiết bị, đồ chơi ngoài trời; làm đồ chơi và chơi với các vật liệu thiên nhiên như cây, quả, hoa, lá, cát, sỏi, nước.- Chơi với những trò chơi vận động, trò chơi dân gian mà trẻ thích nhằm tăng cường khả năng vận động cơ thể như chạy, nhảy, leo, trèo, nắm, bắt…- Quan sát một số sự thay đổi của các hiện tượng thiên nhiên, âm thanh, thời tiết, cây, cối, hoa, lá. Hoạt động của con người, con vật.- Tham gia vào các hoạt động lao động như nhặt lá rơi, lau lá cây; tưới cây, chăm sóc các con vật nuôi ở góc thiên nhiên.- Dạo chơi trong sân trường, thăm các khu vực trong trường( thăm nhà bếp, phòng y tế và các nhóm lớp học khác hoặc tham quan ngoài khu vực trường như: công viên, sở thú, cánh đồng, cửa hàng, siêu thị, trường tiểu học, doanh trại bộ đội, xí nghiệp, nhà máy,.. thuộc cộng đồng dân cư gần trường.
* Khi thực hiện kế hoạch tuần và tổ chức cho trẻ chơi và hoạt động ngoài trời cô nên lưu ý:
- Trong thời gian này, giáo viên không nên triển khai cùng một lúc tất cả nội dung trên, mà chọn và phối hợp các nội dung phù hợp với việc triển khai chủ đề trong tuần và thích hợp với trẻ. Tùy theo tình huống, điều kiện cụ thể của trường, lớp, mỗi ngày, cô nên lựa chọn thực hiện từ 2 - 3 nội dung.- Cô có thể cho trẻ tham gia khỏang 8 - 10 phút trò chơi vận động, trò chơi dân gian mang tính tập thể, sau đó cho trẻ cùng chơi nhặt lá, làm đồ chơi bằng vật liệu thiên nhiên, chăm sóc cây cối, con vật yêu thích ở góc thiên nhiên hoặc có thể cho trẻ chơi theo ý thích với đồ chơi thiết bị ngoài trời, chơi với cát, nước….Trẻ có thể đem một số đồ chơi mà trẻ thích ở trong lớp ra để chơi như búp bê, các khối gỗ, ô tô…, ngồi dưới bóng râm nghe cô kể chuyện, hát…, hoặc đi dạo, tham quan xung quanh trường.- Khi tổ chức thực hiện những nội dung trên, cô giáo cần tổ chức phối hợp, hợp lí nội dung hoạt động có tính động(chạy, nhảy, leo, trèo) với những nội dung mang tính chất tĩnh( ngồi nghe kể chuyện, hát, đọc thơ, xem tranh chuyện, làm đồ chơi bằng vật liệu thiên nhiên…). Cô không nên tổ chức quá nhiều nôi dung hoặc cho trẻ tham gia vào một hoạt động nào đó quá lâu, nhàm chán, làm trẻ mệt.
* Một số lưu ý
- Cô nên nói rõ khu vực chơi của lớp, tập cho trẻ biết tập trung một chỗ, khi cô yêu cầu hoặc khi chuẩn bị vào lớp theo hiệu lệnh của cô.- Trong quá trình trẻ chơi, hoạt động, cô luôn quan sát, bao quát tất cả nhóm chơi của lớp trong sân trường, nhắc nhở trẻ không được chơi quá khu vực quy định của lớp và những nơi nguy hiểm.- Khi trẻ chơi với vật liệu thiên nhiên, giáo viên cần chú ý bao quát trẻ chơi, nhắc nhở trẻ không nên dụi tay bẩn lên mặt, mắt, nghịch và làm bẩn quần áo của mình và của bạn. Khi cho trẻ chơi với cát, nước, đặt biệt với những thiết bị ngoài trời, cô cần chú ý quan sát để giải quyết những xung đột và xử lí nhanh kịp thời với những tình huống nguy hiểm xảy ra trong quá trình chơi, đảm bảo an toàn cho trẻ.- Những hôm cho trẻ đi xa, ngoài khu vực sân trường (đi chơi, tham quan vườn hoa, công viên, cửa hàng, lăng Bác…), cô nên chuẩn bị chu đáo, lên kế hoạch với mục đích và nội dung, phương tiện cụ thể gắn với chủ đề và liên hệ từ trước.- Những hôm thời tiết mưa, quá lạnh, không thể tổ chức cho trẻ chơi và tham gia vào các hoạt động ở ngoài trời, cô có thể tổ chức cho trẻ chơi vận động, trò chơi dân gian mà trẻ thích, hướng dẫn trẻ quan sát sự thay đổi của các hiện tượng thời tiết hoặc tổ chức cho trẻ tham gia vào các hoạt động: đọc sách, kể chuyện, xem truyện tranh, băng hình…, chơi với đồ chơi theo ý thích ở một vài khu vực(góc) hoạt động trong lớp. Cô nên lưu ý, nhắc nhỡ, hướng dẫn trẻ biết cách tự mặc thêm áo hoặc cởi bớt khi thời tiết thay đổi.- Đối với trẻ sức khỏe yếu, cô nên quan tâm, khuyến khích trẻ tham gia vào các hoạt động, trò chơi phù hợp với sức khỏe và khả năng của trẻ.- Trẻ 4 - 5 tuổi đã biết tự phục vụ, biết làm theo yêu cầu của người lớn và có một số nề nếp thói quen tham gia vào hoạt động tập thể. Vì vậy, cô nên khuyến khích trẻ thực hiện một số công việc phcụ vụ cho bản thân( mặc quần áo, đi, cởi giày, dép) khi ra vào lớp. Sauk hi trẻ chơi xong, cô yêu cầu trẻ vào lớp cất giày, dép đúng nơi quy định, tự rửa tay, lau mặt, nghỉ vài phút để chuẩn bị cho hoạt động tiếp theo.- Với những hôm thời tiết nắng nóng, cô có thể tiến hành hoạt động này trước thời điểm chơi và hoạt động ở các góc.
5. Vệ sinh, ăn trưa
Giờ ăn tiến hành trong khoảng 60 phút. Giáo viên cần sắp xếp công việc một cách hợp lí từ khâu chuẩn bị ăn cho đến khâu vệ sinh sau khi ăn, nhất là những nơi chỉ có một giáo viên đứng lớp.Giáo viên cần hướng dẫn và cho trẻ thói quen vệ sinh sạch sẽ trước khi ăn. Những lớp có 2 giáo viên thì nên phân công một cô giám sát trẻ lau mặt, rửa tay sạch sẽ trước khi ăn, cô còn lại chuẩn bị và giám sát một số trẻ trực nhật bữa ăn. Trường hợp lớp có một cô thì cô vừa làm vừa phải bao quát chung cả lớp, nên phân công một trẻ trong lớp giám sát các trẻ khác rửa tay, lau mặt và phân công một số trẻ trực nhật bữa ăn.Sau khi trẻ ăn xong, cô cho trẻ cùng dọn dẹp chỗ ngồi ăn và nhắc nhở trẻ vệ sinh sạch sẽ, không cho trẻ chạy, nhảy nhiều sau khi ăn. Trong thời gian chờ đợi cô và nhóm trẻ trực nhật dọn dẹp và chuẩn bị giường ngủ, cô cho trẻ nghỉ ngơi nhẹ nhàng hoặc bố trí cho trẻ chơi ở một số góc chơi thích hợp, nhẹ nhàng để chuẩn bị cho giờ ngủ tiếp theo.
6. Ngủ trưa
Thời gian dành cho thời điểm này là 150 phút. Cô nên bố trí thời gian thích hợp cho các bước chuẩn bị nơi ngủ, thời gian trẻ đi vệ sinh trước khi ngủ và đảm bảo thời gian cho trẻ ngủ đủ và đẩy giấc. Thời gian đầu có trẻ chưa quen với giấc ngủ trưa, giáo viên không nên ép trẻ ngủ ngay như các trẻ khác mà dần dần cho trẻ làm quen, có thể cho trẻ ngủ muộn hơn các bạn khác hoặc nằm im tại chỗ, không nhất thiết phải vào giấc ngủ ngay.
7. Ăn phụ
Sau khi trẻ ngủ dậy, cô nhắc nhở trẻ tự đi vệ sinh và lau mặt, rửa tay sạch sẽ, trước khi ăn phụ. Thời gian cho thời điểm này khỏang từ 30 - 40 phút.
8. Chơi và hoạt động theo ý thích buổi chiều
Trong thời gian này, cô chủ yếu tổ chức cho trẻ tham gia vào các trò chơi, hoạt động theo ý thích trong các khu vực hoạt động. Những trò chơi thường là trò chơi vận động, trò chơi học tập hoặc chơi trò chơi đóng kịch. Cô cũng có thể tổ chức cho trẻ nghe kể chuyện hay đọc lại bài thơ, hoặc biểu diễn các bài hát, múa mà trẻ đã biết, xem các chương trình dành cho thiếu nhi trên vô tuyến, chơi các trò chơi với máy vi tính…Khi tiến hành những nội dung trong thời điểm này, cô có thể cho trẻ lựa chọn nội dung hoạt động theo ý thích và phù hợp với trẻ, gắn với chủ đề. Thời gian tiến hành khoảng 50 - 60 phút.Cô nên gợi ý cho trẻ lựa chọn các hoạt động theo ý thích đảm bảo phối hợp hợp lí giữa hoạt động có tính chất tĩnh với hoạt động có tính chất động. Với những hôm có hoạt động học vào buổi chiều, thời gian còn lại, cô nên tổ chức cho trẻ chơi, hoạt động theo ý thích. Cô không nên cho trẻ tham gia quá nhiều nội dung cùnh một lúc hay thời gian quá lâu với một hoạt động nào đó.
9. Trẻ chuẩn bị ra về và trả trẻ
Trước khi chuẩn bị cho trẻ ra về, cô có thể cùng trò chuyện với trẻ, cho trẻ tự nhận xét, khuyến khích trẻ nêu các gương tốt trong ngày, tạo cho trẻ tâm trạng hào hứng, vui vẻ, có những ấn tượng tốt với lớp, với cô, với bạn để hôm sau trẻ lại thích đến trường. Tuy nhiên thời gian không nên kéo dài quá 10 phút.Hướng dẫn trẻ làm vệ sinh cá nhân: lau mặt, rửa tay, sửa sang quần áo, đầu tóc cho gọn gang, sạch sẽ. Trong thời gian chờ đợi bố mẹ đến đón, cô nên cho trẻ chơi tự do với một số đồ chơi dễ cất hoặc cho trẻ cùng nhau xem truyện tranh…Tùy theo điều kiện, cô có thể cho trẻ chơi với đồ chơi thiết bị ngoài trời, không nên để trẻ ngồi một chỗ chờ bố mẹ đến đón.Khi bố mẹ đến đón, cô hướng dẫn trẻ tự cất đồ chơi đúng nơi quy định, chào bố mẹ, chào cô giáo, chào các bạn trước khi ra về. Cô nên giành thời gian trao đổi với ba mẹ, gia đình một số thông tin cần thiết trong ngày về cá nhân trẻ, cũng như một số hoạt động của lớp.
NỘI DUNG 3: HƯỚNG DẪN THEO DÕI SỨC KHỎE VÀ GIÁM SÁT PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ TRONG NHÓM, LỚP
I. GIỚI THIỆU NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG VỀ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ (Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Chương trình Giáo dục mầm non)
Chương trình GDMN 2009
Chương trình GDMN 2016
Phần Một. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNGYÊU CẦU VỀ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ
Đánh giá sự phát triển của trẻ (bao gồm đánh giá trẻ hằng ngày và đánh giá trẻ theo giai đoạn) nhằm theo dõi sự phát triển của trẻ, làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch và kịp thời điều chỉnh kế hoạch giáo dục cho phù hợp với trẻ, với tình hình thực tế ở địa phương. Trong đánh giá phải có sự phối hợp nhiều phương pháp, hình thức đánh giá; coi trọng đánh giá sự tiến bộ của từng trẻ, đánh giá trẻ thường xuyên qua quan sát hoạt động hằng ngày.
Phần Hai. CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC NHÀ TRẺĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ
Đánh giá sự phát triển của trẻ là quá trình thu thập thông tin về trẻ một cách có hệ thống và phân tích, đối chiếu với mục tiêu của Chương trình giáo dục mầm non nhằm theo dõi sự phát triển của trẻ và điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ.
Đánh giá sự phát triển của trẻ là quá trình thu thập thông tin về trẻ một cách có hệ thống và phân tích, đối chiếu với mục tiêu của Chương trình Giáo dục mầm non, nhận định về sự phát triển của trẻ nhằm điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ một cách phù hợp.
I. ĐÁNH GIÁ TRẺ HẰNG NGÀY1. Mục đích đánh giáĐánh giá những diễn biến tâm - sinh lí của trẻ hằng ngày trong các hoạt động, nhằm phát hiện những biểu hiện tích cực hoặc tiêu cực để kịp thời điều chỉnh kế hoạch hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ.2. Nội dung đánh giá
3. Phương pháp đánh giáSử dụng một hay kết hợp nhiều phương pháp sau đây để đánh giá trẻ:
Hằng ngày, giáo viên theo dõi trẻ trong các hoạt động, ghi lại những tiến bộ rõ rệt và những điều cần lưu ý vào sổ kế hoạch giáo dục hoặc nhật ký của lớp để điều chỉnh kế hoạch và biện pháp giáo dục.
I . ĐÁNH GIÁ TRẺ HẰNG NGÀY1. Mục đích đánh giá:Đánh giá nhằm kịp thời điều chỉnh kế hoạch hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ hằng ngày.2. Nội dung đánh giá:- Tình trạng sức khoẻ của trẻ.- Trạng thái cảm xúc, thái độ và hành vi của trẻ.- Kiến thức, kĩ năng của trẻ.3. Phương pháp đánh giáSử dụng một hay kết hợp nhiều phương pháp sau đây để đánh giá trẻ:- Quan sát.- Trò chuyện, giao tiếp với trẻ.- Phân tích sản phẩm hoạt động của trẻ.- Trao đổi với cha, mẹ/người chăm sóc trẻ.Hằng ngày, giáo viên theo dõi và ghi chép lại những thay đổi rõ rệt của trẻ và những điều cần lưu ý để kịp thời điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, giáo dục.
II. ĐÁNH GIÁ TRẺTHEOGIAI ĐOẠN1. Mục đích đánh giáXác định mức độ đạt được của trẻ ở các lĩnh vực phát triển theo từng giai đoạn, trên cơ sở đó điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, giáo dục cho giai đoạn tiếp theo.2. Nội dung đánh giáĐánh giá mức độ phát triển của trẻ theo giai đoạn về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kỹ năng xã hội và thẩm mĩ.3. Phương pháp đánh giáSử dụng một hay kết hợp nhiều phương pháp sau đây để đánh giá trẻ:
Kết quả đánh giá được giáo viên ghi lại trong hồ sơ cá nhân trẻ.4. Thời điểm và căn cứ đánh giá
II - ĐÁNH GIÁ TRẺ THEO GIAI ĐOẠN1. Mục đích đánh giá:Xác định mức độ đạt được của trẻ ở các lĩnh vực phát triển theo từng giai đoạn, trên cơ sở đó điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, giáo dục cho giai đoạn tiếp theo.2. Nội dung đánh giá:Đánh giá mức độ phát triển của trẻ theo giai đoạn về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kĩ năng xã hội và thẩm mĩ.3. Phương pháp đánh giáSử dụng một hay kết hợp nhiều phương pháp sau đây để đánh giá trẻ:- Quan sát.- Trò chuyện, giao tiếp với trẻ.- Phân tích sản phẩm hoạt động của trẻ.- Sử dụng bài tập tình huống.- Trao đổi với cha, mẹ/người chăm sóc trẻKết quả đánh giá được giáo viên lưu giữ trong hồ sơ cá nhân trẻ.4. Thời điểm và căn cứ đánh giá- Đánh giá cuối độ tuổi (6, 12, 18, 24, 36 tháng) dựa vào kết quả mong đợi.- Đánh giá mức độ phát triển thể chất của trẻ cần sử dụng thêm chỉ số về cân nặng, chiều cao cuối độ tuổi.
PHẦN BA.CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẪU GIÁOĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ
Đánh giá sự phát triển của trẻ là quá trình thu thập thông tin về trẻ một cách có hệ thống và phân tích, đối chiếu với mục tiêu của Chương trình giáo dục mầm non nhằm theo dõi sự phát triển của trẻ và điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ.
Đánh giá sự phát triển của trẻ là quá trình thu thập thông tin về trẻ một cách có hệ thống và phân tích, đối chiếu với mục tiêu của Chương trình giáo dục mầm non, nhận định mức độ phát triển của trẻ nhằm điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ một cách phù hợp.
I. ĐÁNH GIÁ TRẺ HẰNG NGÀY1. Mục đích đánh giáĐánh giá những diễn biến tâm - sinh lí của trẻ hằng ngày trong các hoạt động, nhằm phát hiện những biểu hiện tích cực hoặc tiêu cực để kịp thời điều chỉnh kế hoạch hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ.2. Nội dung đánh giá
3. Phương pháp đánh giáSử dụng một hay kết hợp nhiều phương pháp sau đây để đánh giá trẻ:
Hằng ngày, giáo viên theo dõi trẻ trong các hoạt động, ghi lại những tiến bộ rõ rệt và những điều cần lưu ý vào sổ kế hoạch giáo dục hoặc nhật ký của lớp để điều chỉnh kế hoạch và biện pháp giáo dục.
I. ĐÁNH GIÁ TRẺ HẰNG NGÀY1. Mục đích đánh giá:Đánh giá nhằm kịp thời điều chỉnh kế hoạch hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ hằng ngày.2. Nội dung đánh giá:- Tình trạng sức khoẻ của trẻ.- Trạng thái cảm xúc, thái độ và hành vi của trẻ.- Kiến thức, kỹ năng của trẻ.3. Phương pháp đánh giáSử dụng một hay kết hợp nhiều phương pháp sau đây để đánh giá trẻ:- Quan sát.- Trò chuyện, giao tiếp với trẻ.- Sử dụng tình huống.- Phân tích sản phẩm hoạt động của trẻ.- Trao đổi với cha, mẹ/người chăm sóc trẻ.Hằng ngày, giáo viên theo dõi và ghi chép lại những thay đổi rõ rệt của trẻ và những điều cần lưu ý để kịp thời điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, GD cho phù hợp.
II. ĐÁNHGIÁ TRẺ CUỐI CHỦ ĐỀ VÀ THEO GIAI ĐOẠN1. Mục đích đánh giáXác định mức độ đạt được của trẻ ở các lĩnh vực phát triển cuối chủ đề và theo giai đoạn, trên cơ sở đó điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, giáo dục cho chủ đề và giai đoạn tiếp theo.2. Nội dung đánh giáĐánh giá mức độ phát triển của trẻ về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm - xã hội và thẩm mĩ cuối chủ đề và giai đoạn.3. Phương pháp đánh giáSử dụng một hay kết hợp nhiều phương pháp sau đây để đánh giá trẻ:
Kết quả đánh giá được giáo viên ghi lại trong hồ sơ cá nhân trẻ.4. Thời điểm và căn cứ đánh giáĐánh giá cuối chủ đề dựa vào mục tiêu của chủ đề.
II. ĐÁNH GIÁ TRẺ THEO GIAI ĐOẠN1. Mục đích đánh giá:Xác định mức độ đạt được của trẻ ở các lĩnh vực phát triển theo giai đoạn (cuối chủ đề/tháng, cuối mỗi độ tuổi) trên cơ sở đó điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, giáo dục cho giai đoạn tiếp theo.2. Nội dung đánh giá:Đánh giá mức độ phát triển của trẻ về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm và kĩ năng xã hội, thẩm mĩ.3. Phương pháp đánh giáSử dụng một hay kết hợp nhiều phương pháp sau đây để đánh giá trẻ:- Quan sát.- Trò chuyện với trẻ.- Phân tích sản phẩm hoạt động của trẻ.- Sử dụng tình huống hoặc bài tập/trắc nghiệm.- Trao đổi với cha, mẹ/người chăm sóc trẻ.Kết quả đánh giá được giáo viên lưu giữ trong hồ sơ cá nhân của trẻ.4. Thời điểm và căn cứ đánh giá- Đánh giá cuối giai đoạn dựa vào mục tiêu giáo dục chủ đề/tháng, kết quả mong đợi cuối độ tuổi.- Đánh giá mức độ phát triển thể chất cần sử dụng thêm chỉ số về cân nặng, chiều cao cuối độ tuổi.
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ1. Mục đích, ý nghĩa, nội dung đánh giá trẻ1.1. Ðánh giá sự PT của trẻ là gì?Đánh giá sự phát triển của trẻ là quá trình thu thập thông tin về trẻ một cách có hệ thống và phân tích, đối chiếu với mục tiêu của Chương trình Giáo dục mầm non, nhận định về sự phát triển của trẻ nhằm điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ một cách phù hợp.1.2. Mục đích đánh giáĐánh giá là một phần không thể thiếu trong quá trình GD. Đánh giá sự phát triển của trẻ trong giáo dục mầm non nhằm xác định mức độ phát triển của trẻ so với mục tiêu của từng độ tuổi để có biện pháp thích hợp giúp trẻ tiến bộ.1.3. Ý nghĩa của việc đánh giá sự PT của trẻÐánh giá sự phát triển của trẻ qua các HÐ, qua các giai đoạn cho ta biết được những biểu hiện về tâm sinh lý của trẻ hàng ngày, sự phát triển toàn diện của trẻ qua từng giai đoạn, khả nãng sẵn sàng, chiều hướng PT của trẻ ở những giai đoạn tiếp theo từ đó có thể phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau:
- Ðánh giá trẻ thường xuyên giúp giáo viên có được các thông tin về sự tiến bộ của trẻ trong một thời gian dài;
- Xác định được những khó khăn, những nguyên nhân cụ thể trong sự PT của trẻ làm cơ sở để giáo viên đưa ra các quyết định giáo dục tác động phù hợp đối với trẻ;
- Giúp giáo viên biết được hiệu quả của các hoạt động, mức độ kết quả đạt được theo dự kiến, làm sáng tỏ những vấn đề nhất định đòi hỏi phải có kế hoạch bổ sung;
- Ðánh giá là cơ sở để xác định những nhu cầu giáo dục cá nhân đứa trẻ, căn cứ cho việc xây dựng kế hoạch tiếp theo;
- Làm cơ sở để trao đổi, đưa ra những quyết định phối hợp trong giáo dục trẻ với cha mẹ trẻ, với giáo viên nhóm/lớp hoặc cơ sở giáo dục khác nơi sẽ tiếp nhận trẻ tiếp theo;
- Làm cơ sở đề xuất đối với các cấp quản lý giáo dục trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ của nhóm/ lớp/ trường/ địa phương.
1.4. Nội dung đánh giáĐánh giá sự phát triển của trẻ gồm các nội dung:- Đánh giá sự phát triển thể chất- Đánh giá sự phát triển nhận thức- Đánh giá sự phát triển ngôn ngữ- Đánh giá sự phát triển tình cảm, kĩ năng xã hội- Đánh giá sự phát triển thẩm mĩ2. Các phương pháp đánh giá sự phát triển của trẻ2.1. Quan sát tự nhiênLà sự tri giác trực tiếp, không tác động hay can thiệp vào các hoạt động tự nhiên của trẻ. Các thông tin quan sát về biểu hiện tâm lí, các hành vi của trẻ được ghi lại một cách có hệ thống, có kế hoạch. Cụ thể:- Quan sát và lắng nghe cá nhân trẻ nói và làm (quá trình hoạt động): ý tưởng và cách diễn đạt ý tưởng, cách trẻ khám phá, cách trẻ làm và sử dụng những gì trẻ đã biết.- Quan sát và lắng nghe cách giao tiếp, cách ứng xử, thái độ, tình cảm của trẻ với các bạn trong nhóm bạn, nhóm chơi, trong hoạt động sinh hoạt hằng ngày: có hợp tác và làm việc theo nhóm không, có lắng nghe người khác không, tham gia hay thụ động trong hoạt động nhóm, khi chơi trong nhóm bạn thường đặt mình ở vị trí nào: là trưởng nhóm, thành viên tích cực hay phục tùng, phụ thuộc; trẻ biểu đạt sự thỉnh cầu hay nguyện vọng của mình như thế nào; trẻ có biết chia sẻ cùng bạn trong khi chơi không, có thường gây ra hay biết cách giải quyết những xung đột không; trẻ có biết giải quyết các những tình huống khác xảy ra trong quá trình chơi hay không....2.2. Trò chuyện với trẻ- Trò chuyện là cách tiếp cận trực tiếp với trẻ thông qua sự giao tiếp bằng lời nói. Trong trò chuyện, giáo viên có thể đưa ra câu hỏi, gợi mở kéo dài cuộc trò chuyện để có thể thu thập các thông tin theo mục đích đã định.- Khi trò chuyện với trẻ GV cần xác định mục đích, nội dung phù hợp;- Chuẩn bị phương tiện đồ dùng, đồ chơi... cần thiết để tạo ra sự gần gũi, quen thuộc;- Gợi ý để trẻ dùng động tác, cử chỉ biểu đạt, nếu trẻ chưa nói được bằng lời;- Dùng lời nói ngắn ngọn, đơn giản; ân cần khi trò chuyện với trẻ; động viên, khuyến khích hướng trẻ vào cuộc trò chuyện.- Khi đưa ra câu hỏi, cần cho trẻ thời gian suy nghĩ để trả lời, có thể gợi ý;- Trò chuyện khi trẻ thoải mái, vui vẻ, tự nguyện....2.3. Phân tích sản phẩm hoạt động của trẻ- Dựa trên các sản phẩm hoạt động của trẻ (các sản phẩm vẽ, nặn, cắt, dán, xếp hình…), để xem xét, phân tích, đánh giá ý tưởng, mức độ khéo léo, sự sáng tạo, khả năng thẩm mỹ của trẻ; sự tiến bộ của trẻ. Thông qua sản phẩm của trẻ có thể đánh giá được mức độ kiến thức, kĩ năng, trạng thái xúc cảm, thái độ của trẻ.- Việc đánh giá sự phát triển của trẻ thông qua sản phẩm mà trẻ tạo ra cần lưu ý: không chỉ căn cứ vào kết quả của sản phẩm đó mà còn căn cứ vào quá trình trẻ thực hiện để tạo ra sản phẩm (sự tập trung chú ý, ý thức thực hiện sản phẩm đến cùng, thời gian thực hiện, cách thức sử dụng dụng cụ, vật liệu để tạo nên sản phẩm, mức độ thể hiện sự khéo léo…).- Giáo viên cần ghi lại những nhận xét của mình vào từng sản phẩm của trẻ và lưu lại thành hồ sơ riêng của từng trẻ. Do các sản phẩm của trẻ được thu thập theo thời gian nên giáo viên có thể dựa vào các sản phẩm đó để đánh giá sự tiến bộ của trẻ.2.4. Sử dụng tình huống- Là cách thức thông qua các tình huống thực tế hoặc tình huống giả định để đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi xã hội, kĩ năng giải quyết vấn đề ... của trẻ (Ví dụ: thái độ đồng tình/không đồng tình của trẻ đối với những hành vi tốt/ không tốt: đỡ bạn khi thấy bạn bị ngã; xả rác bừa bãi. Kĩ năng giải quyết vần đề: có gọi người lớn khi gặp bất trắc không? biết chạy ra khỏi đám cháy? biết nối gậy để khều quả bóng dưới gầm giường? có biết từ chối khi người lạ rủ đi không?...).- Khi sử dụng các tình huống giả định để thu thập thông tin cần thiết về trẻ, giáo viên cần chú ý:+ Tình huống phải phù hợp với mục đích đánh giá.+ Tổ chức tình huống khéo léo để trẻ tích cực tham gia và bộc lộ một cách tự nhiên.+ Những kết quả theo dõi được về trẻ trong quá trình chơi cần được ghi chép lại.2.5. Trao đổi với phụ huynh- Nhằm mục đích khẳng định thêm những nhận định, đánh giá của giáo viên về trẻ, đồng thời có biện pháp tăng cường sự phối hợp với gia đình trong chăm sóc, giáo dục trẻ.- Giáo viên có thể trao đổi với phụ huynh hằng ngày, trao đổi trong các cuộc họp phụ huynh, qua những buổi thăm gia đình trẻ để thu thập thêm thông tin về trẻ (Ví dụ: Trẻ ít nói, thiếu hoà đồng có phải do chậm phát triển ngôn ngữ hay chưa thích ứng với môi trường lớp học, do mắc bệnh tự kỉ hoặc do sự bất hòa trầm trọng trong gia đình...).Giáo viên sẽ phân tích thông tin, xác định nguyên nhân để phối hợp với gia đình tìm biện pháp tác động giúp trẻ tiến bộ.Lưu ý:
+ Khi thực hiện theo dõi, đánh giá trẻ, giáo viên cần thực hiện phối hợp các phương pháp khác nhau một cách linh hoạt để có kết quả đáng tin cậy.
+ Việc lựa chọn các phương pháp đánh giá là tùy thuộc vào sự quyết định của giáo viên sao cho thích hợp nhất với hoàn cảnh, điều kiện thực tiễn. Tuy nhiên, quan sát tự nhiên là phương pháp được sử dụng chủ yếu nhất trong trường mầm non.
Hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ trong nhà trường:
- Chủ yếu do giáo viên tiến hành trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ.
- Cha mẹ trẻ cùng phối hợp tham gia.
- Do các cán bộ quản lí giáo dục (Bộ, Sở, Phòng Giáo dục và Ðào tạo và Ban giám hiệu nhà trường) tiến hành với các mục đích khác nhau nhưng cùng hướng đến mục đích chung là làm thế nào để nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ.
III. HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ1. ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ NHÀ TRẺ1.1. Đánh giá sự phát triển của trẻ hàng ngày1.1.1. Mục đích đánh giáĐánh giá nhằm kịp thời điều chỉnh kế hoạch hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ hằng ngày.1.1 2. Nội dung đánh giá- Tình trạng sức khoẻ của trẻ.- Trạng thái cảm xúc, thái độ và hành vi của trẻ.- Kiến thức, kĩ năng của trẻ.1.1 3. Phương pháp đánh giáSử dụng một hay kết hợp nhiều phương pháp sau đây để đánh giá trẻ:- Quan sát.- Trò chuyện, giao tiếp với trẻ.- Phân tích sản phẩm hoạt động của trẻ.- Trao đổi với cha, mẹ/người chăm sóc trẻ. Hằng ngày, giáo viên theo dõi và ghi chép lại những thay đổi rõ rệt của trẻ và những điều cần lưu ý để kịp thời điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, giáo dục.1.1.4. Cách ghi chép:- Ghi chép lại những thay đổi rõ rệt và những điều cần lưu ý...: ghi ngắn gọn bằng những nhận định chung, những vấn đề nổi bật (có thể là ưu điểm hoặc hạn chế) thu thập được qua quan sát đối với cá nhân hoặc một nhóm trẻ.- Kết quả đánh giá hằng ngày được giáo viên quan sát, theo dõi trong quá trình tổ chức hoạt động, sau khi tổ chức hoạt động (ghi chép vào sổ nhỏ, giấy nhớ….), cuối ngày tổng hợp, ghi chép vào kế hoạch giáo dục.Căn cứ vào những gì quan sát và ghi chép được, giáo viên có thể trao đổi với phụ huynh để cùng xem xét, xác định nguyên nhân để điều chỉnh kế hoạch và có những biện pháp giáo dục tác động kịp thời khắc phục những tồn tại, phát huy những biểu hiện tích cực của trẻ trong những ngày tiếp theo hoặc lưu ý để tiếp tục theo dõi.1.2. Đánh giá sự phát triển của trẻ theo giai đoạn1.2. 1. Mục đích đánh giáXác định mức độ đạt được của trẻ ở các lĩnh vực phát triển theo từng giai đoạn, trên cơ sở đó điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, GD cho giai đoạn tiếp theo.1.2. 2. Nội dung đánh giáĐánh giá mức độ phát triển của trẻ theo giai đoạn về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kĩ năng xã hội và thẩm mĩ.1.2. 3. Phương pháp đánh giáSử dụng một hay kết hợp nhiều phương pháp sau đây để đánh giá trẻ:- Quan sát.- Trò chuyện, giao tiếp với trẻ.- Phân tích sản phẩm hoạt động của trẻ.- Sử dụng bài tập tình huống.- Trao đổi với cha, mẹ/người chăm sóc trẻKết quả đánh giá được giáo viên lưu giữ trong hồ sơ cá nhân trẻ.1.2.4. Thời điểm và căn cứ đánh giá- Đánh giá cuối độ tuổi (6, 12, 18, 24, 36 tháng) dựa vào kết quả mong đợi.- Đánh giá mức độ phát triển thể chất của trẻ cần sử dụng thêm chỉ số về cân nặng, chiều cao cuối độ tuổi.1.2.5. Cách ghi chép:- Đánh giá trẻ nhà trẻ không diễn ra cùng một lúc, mỗi tháng, giáo viên lập danh sách các trẻ tròn 6, 12, 18, 24, 36 tháng tuổi nhận xét, đánh giá trẻ đã đạt hay chưa đạt các chỉ số tương ứng với tháng tuổi và ghi vào ”Bảng kết quả đánh giá trẻ theo giai đoạn” để theo dõi cũng như trao đổi với cha mẹ trẻ. Có thể sử dụng kết quả đánh giá hàng ngày, không nhất thiết phải tổ chức buổi đánh giá riêng.Ví dụ: Bảng đánh giá nhóm trẻ (lưu trong Hồ sơ theo dõi chất lượng nhóm trẻ)
2. ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ MẪU GIÁO2.1. Đánh giá sự phát triển của trẻ hàng ngày2.1.1. Mục đích đánh giáĐánh giá nhằm kịp thời điều chỉnh kế hoạch hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ hằng ngày.2.1.2. Nội dung đánh giá- Tình trạng sức khoẻ của trẻ.- Trạng thái cảm xúc, thái độ và hành vi của trẻ.- Kiến thức, kỹ năng của trẻ.2.1.3. Phương pháp đánh giáSử dụng một hay kết hợp nhiều phương pháp sau đây để đánh giá trẻ:- Quan sát.- Trò chuyện, giao tiếp với trẻ.- Sử dụng tình huống.- Phân tích sản phẩm hoạt động của trẻ.- Trao đổi với cha, mẹ/người chăm sóc trẻ.Hằng ngày, giáo viên theo dõi và ghi chép lại những thay đổi rõ rệt của trẻ và những điều cần lưu ý để kịp thời điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, GD cho phù hợp.- Phương pháp sử dụng có hiệu quả, dễ thực hiện là phương pháp quan sát và trao đổi với phụ huynh.Ví dụ: trẻ ăn có ngon không, ngủ có yên giấc không; trẻ thoải mái, hứng thú, tích cực trong các hoạt động vui chơi, học tập không; những sự kiện đặc biệt nào xảy ra trong ngày đối với trẻ (trẻ bị ngã, trẻ đánh nhau; trẻ không nhìn thấy rõ vật nào đó khi ngồi xa; trẻ nói thêm được những câu, từ ngữ mới; trẻ không phát âm được những từ nào đó; trẻ vẽ được bức tranh khá đặc biệt; trẻ biểu hiện những cảm xúc thái quá...).2.1.4. Cách ghi chép: Quy định giống như độ tuổi nhà trẻ2.2. Đánh giá sự phát triển của trẻ theo giai đoạn 2.2.1. Mục đíchXác định mức độ đạt được của trẻ ở các lĩnh vực phát triển theo giai đoạn (cuối chủ đề/tháng, cuối mỗi độ tuổi) trên cơ sở đó điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, giáo dục cho giai đoạn tiếp theo.2.2.2. Nội dung đánh giáĐánh giá mức độ phát triển của trẻ về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm và kĩ năng xã hội, thẩm mĩ.2.2.3. Phương pháp đánh giáSử dụng một hay kết hợp nhiều phương pháp sau đây để đánh giá trẻ:- Quan sát.- Trò chuyện với trẻ.- Phân tích sản phẩm hoạt động của trẻ.- Sử dụng tình huống hoặc bài tập/trắc nghiệm.- Trao đổi với cha, mẹ/người chăm sóc trẻ.Kết quả đánh giá được giáo viên lưu giữ trong hồ sơ cá nhân của trẻ.Đối với hình thức đánh giá sự phát triển của trẻ sau khi thực hiện một chủ đề giáo dục/tháng có thể sử dụng phương pháp phù hợp với thông tin cần thu thập để phân tích đánh giá.Ví dụ: - Đánh giá sự phát triển về vận động thô của trẻ như leo, trèo, chạy, nhảy, bắt bóng... có thể đưa ra các bài tập để trẻ thực hiện.- Đánh giá khả năng phối hợp nhóm, thái độ ứng xử với bạn bè, tính tự tin, tự lực… có thể sử dụng phương pháp quan sát trẻ thông qua các hoạt động chơi, học tập... hoặc sử dụng các tình huống giả định.- Đánh giá khả năng giao tiếp, sử dụng câu, vốn từ... của trẻ có thể sử dụng phương pháp trò chuyện trực tiếp với trẻ hoặc quan sát trẻ trong quá trình giao tiếp với bạn bè.2.2.4. Thời điểm và căn cứ đánh giá- Đánh giá cuối giai đoạn dựa vào mục tiêu giáo dục chủ đề/tháng, kết quả mong đợi cuối độ tuổi.- Đánh giá mức độ phát triển thể chất cần sử dụng thêm chỉ số về cân nặng, chiều cao cuối độ tuổi.2.2.5. Cách ghi chépa. Đánh giá theo chủ đề/thángMỗi lớp sử dụng 1 Bảng cho 1 chủ đề/tháng- Cuối bảng: Một số vấn đề cần lưu ý (ghi những vấn đề cần quan tâm hoặc chuẩn bị cho chủ đề/tháng tiếp theo).- Giáo viên có thể sử dụng kết quả đánh giá trẻ hằng ngày làm cơ sở đánh giá theo chủ đề/tháng. Trên cơ sở kết quả đạt được của trẻ, giáo viên điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, giáo dục cho giai đoạn tiếp theo.* Điều chỉnh kế hoạch chủ đề/ tháng/ tuần tiếp theo- Đối với những mục tiêu có tổng số trẻ đạt (+) dưới 70 % thì giáo viên tiếp tục đưa mục tiêu chưa đạt vào mục tiêu giáo dục của chủ đề/tháng tiếp theo.- Đối với mục tiêu có tổng số trẻ đạt (+) trên 70% thì giáo viên điểm ra số trẻ chưa đạt để giúp trẻ rèn luyện mọi lúc, mọi nơi trong quá trình giáo dục và phối hợp với phụ huynh để giúp trẻ đạt được.Do đó mục tiêu giáo dục của chủ đề/tháng tiếp theo sẽ gồm các mục tiêu mới cộng thêm các mục tiêu được chuyển từ chủ đề trước sang (những mục tiêu có số trẻ đạt dưới 70%)* Điều chỉnh kế hoạch ngày: Những mục tiêu trẻ chưa đạt (-) giáo viên điều chỉnh các hoạt động giáo dục cho phù hợp với nhu cầu, hứng thú và khả năng của trẻ.b. Đánh giá cuối độ tuổi- Đánh giá sự phát triển của trẻ cuối độ tuổi được tiến hành vào tháng cuối cùng của năm học.- Căn cứ vào mục tiêu giáo dục trẻ theo kế hoạch năm học (mục tiêu GD đã được xây dựng dựa trên kết quả mong đợi), các giáo viên cùng cán bộ quản lí của nhà trường, cán bộ quản lí ngành học có liên quan lựa chọn từ 30 - 40 mục tiêu giáo dục xây dựng thành phiếu đánh giá sự phát triển của trẻ. Các mục tiêu được lựa chọn phải đảm bảo đầy đủ các lĩnh vực phát triển, đáp ứng những định hướng phát triển trẻ của từng địa phương. - Các phương pháp đánh giá sự phát triển của trẻ cuối năm tuỳ thuộc vào sự lựa chọn và sử dụng của giáo viên sao cho phù hợp nhất với điều kiện, hoàn cảnh hiện tại. Giáo viên có thể sử dụng kết quả đánh giá trẻ hằng ngày và đánh giá trẻ theo chủ đề/tháng để làm cơ sở đánh giá sự phát triển của cá nhân trẻ cuối độ tuổi.- Kết quả đánh giá được ghi vào phiếu đánh giá sự phát triển của trẻ, được lưu vào hồ sơ cá nhân và thông báo với cha mẹ trẻ để phối hợp chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường và ở gia đình. Đồng thời, giáo viên sử dụng kết quả này trao đổi với đồng nghiệp để điều chỉnh kế hoạch giáo dục, trao đổi với giáo viên khi trẻ chuyển lớp, chuyển trường và cùng phối hợp đề xuất các biện pháp giáo dục phù hợp.- Kết quả này không dùng để xếp loại trẻ, không dùng để so sánh giữa các trẻ hoặc tuyển chọn trẻ vào lớp một. Một số lưu ý khi thực hiện đánh giá sự phát triển của trẻ1. Đánh giá đúng khả năng của mỗi trẻ để có những tác động phù hợp và tôn trọng những gì trẻ có. Đánh giá sự phát triển của trẻ phải dựa trên cơ sở sự thay đổi của từng trẻ, không kỳ vọng giống nhau với tất cả trẻ.2. Đánh giá sự phát triển của từng trẻ dựa trên mức độ đạt so với mục tiêu, trên cơ sở đó sử dụng kết quả đánh giá để xây dựng kế hoạch giáo dục (KHGD), điều chỉnh KHGD và tổ chức các hoạt động giáo dục tiếp theo cho phù hợp với khả năng, nhu cầu, sở thích, kinh nghiệm sống của trẻ và điều kiện thực tế của trường, lớp (Không đánh giá so sánh giữa các trẻ).3. Tôn trọng sự khác biệt của mỗi đứa trẻ về hứng thú, cách thức và tốc độ học tập. Chú trọng và thúc đẩy tiềm năng của mỗi trẻ.4. Kết quả đánh giá sự phát triển của cá nhân trẻ, của nhóm, lớp không sử dụng để đánh giá thi đua, thành tích của giáo viên, của tập thể nhóm lớp, không xếp loại trẻ
NỘI DUNG 4: HƯỚNG DẪN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG TRONG NHÓM, LỚP
Hướng dẫn vệ sinh môi trường trong lớp học mầm non
Việc vệ sinh lớp học ở trường mầm non nói riêng và môi trường trường học nói chung diễn ra nhất quán, có hiệu quả đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều nhóm đối tượng. Bên cạnh đó cũng cần có các hoạt động diễn ra thường xuyên để tạo nên một môi trường mọi người đều có ý thức và hào hứng với việc vệ sinh này.
Mỗi bộ phận trong trường sẽ có các nhiệm vụ, chức năng riêng. Chính vì vậy mà việc tham gia vệ sinh môi trường trong trường mầm non và cụ thể là lớp học cũng có sự phân công cụ thể.
Nhiệm vụ của các giáo viên đứng lớp là đảm bảo sự sạch sẽ của mặt sàn, tường và các thiết bị, dụng cụ, đồ chơi trong lớp học. Giáo viên cũng là người chịu trách nhiệm bài trí không gian lớp học sao cho khoa học, thoáng đãng.
Là người tiếp xúc nhiều nhất, giáo dục và chăm sóc trực tiếp cho bé, giáo viên cần phải hướng dẫn và tạo thói quen cho trẻ trong việc giữ gìn vệ sinh lớp học, vứt rác đúng nơi quy định.
Nếu có nhà ăn riêng, nhân viên nhà bếp phải đảm bảo vệ sinh sạch sẽ trước, trong và sau khi các bé ăn xong trong khu vực này. Trường hợp các bé ăn tại lớp học, nhân viên nhà bếp và các giáo viên phải phối hợp trong việc sắp xếp bữa ăn và vệ sinh lớp học sau khi ăn.
Ngoài ra, nhân viên nhà bếp còn có nhiệm vụ:
- Đảm bảo vệ sinh và sắp xếp các thiết bị nhà bếp đúng tiêu chuẩn an toàn.
- Rác thải trong quá trình nấu bếp phải được xử lý đúng quy định.
- Quá trình chế biến thực ăn phải được kiểm soát chặt chẽ, tuân thủ đúng quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Không gian trong nhà bếp như: mặt sàn, tường, bể nước… phải được vệ sinh sạch sẽ và cách ly với nguồn rác thải.
Nhân viên y tế ngoài nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho cán bộ và học sinh của trường thì cần đảm bảo vệ sinh sạch sẽ cho khu vực thuộc sự quản lý của mình. Nhiệm vụ của nhân viên y tế bao gồm:
- Tìm hiểu và tuyên truyền nội dung bảo vệ môi trường và các bệnh lý lây nhiễm cho giáo viên, nhân viên và học sinh trong trường.
- Liên hệ và phát thông tin về các phương pháp bảo vệ môi trường, khắc phục bệnh dịch lên các kênh thông tin của trường và địa phương.
- Hỗ trợ việc kiểm tra vệ sinh thực phẩm và vệ sinh môi trường trong toàn bộ khu vực trường mầm non.
Nhân viên giáo vụ chịu trách nhiệm vệ sinh môi trường tại những khu vực chung như: hành lang, sân trường, khuôn viên… Ngoài ra, nhân viên giáo vụ còn chịu trách nhiệm kiểm soát vận hành của toàn bộ các hệ thống điện, nước, kỹ thuật trong toàn trường để đảm bảo mọi hoạt động của trường được diễn ra liên tục.
Ban giám hiệu được ví như “đầu tàu” trong việc vệ sinh trường mầm non. Cán bộ trong ban giám hiệu chính là những người lập kế hoạch, giám sát thực hiện và kiểm tra vệ sinh môi trường trường học và lớp học mầm non
Việc thực hiện vệ sinh cần kiểm tra thường xuyên, đảm bảo nhắc nhở các bộ phận làm đúng việc cũng như xử lý các phát sinh nếu có. Sau cùng, ban giám hiệu cần có đánh giá để rút kinh nghiệm và đưa ra các đề xuất để tối ưu việc thực hiện trong thời gian sau.
Tại nhà trường, ngoài các hoạt động vệ sinh và giám sát thực hiện, nên có:
- Đưa nhiệm vụ “xây dựng môi trường xanh-sạch-đẹp” vào một trong những mục tiêu quan trọng phải thực hiện được trong kế hoạch của trường.
- Tiến hành tuyên truyền bằng hình ảnh với các hình thức như: biểu bảng panô áp phích… trong trường.
- Cập nhật nội dung hoạt động liên tục trên bảng tin của trường.
- Thực hiện đánh giá về thể chất và tâm lý của trẻ sau khi môi trường học được cải thiện tốt hơn.
Việc bảo vệ môi trường, vệ sinh môi trường trường lớp học cần được thực hiện ngay cả bên ngoài trường học. Vậy nên, nhà trường cần tích cực phối hợp với phụ huynh và tổ chức, cơ quan có thẩm quyền để hoạt động diễn ra hiệu quả.
Nhà trường nên phối hợp với phụ huynh bằng một số hoạt động:
- Tuyên truyền về vai trò của hoạt động vệ sinh môi trường trong các buổi họp phụ huynh.
- Xây dựng và thông qua các quy chế thực hiện giữa gia đình và nhà trường.
- Vận động sự đóng góp cây cảnh, chậu hoa từ phía phụ huynh học sinh để bé có môi trường phát triển tốt hơn.
Ngoài ra, nên thực hiện tuyên truyền về hoạt động vệ sinh môi trường trường học mầm non trên hệ thống thông tin của phường, xã để ai cũng được nhắc nhở và ghi nhớ việc này.
Ở lứa tuổi mầm non, bé bắt đầu có những nhận thức và học hỏi hành vi của cộng đồng xung quanh. Vậy nên, việc giáo dục, hình thành ý thức vệ sinh và bảo vệ môi trường cho những “công dân tương lai” này sẽ quyết định đến môi trường sống của chúng ta về sau.
Vấn đề vệ sinh trường học nói chung và vệ sinh môi trường trường học mầm non nói riêng cần được giải quyết căn bản bằng việc tạo ý thức tự giác cho các em ngay từ nhỏ. Để giáo dục cho trẻ tốt nhất, cần sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường.
Nhà trường và giáo viên, thông qua việc giảng dạy trên lớp để giáo dục vệ sinh môi trường cho trẻ mầm non, giúp cho bé có ý thức tốt, nếp sống văn minh trong việc vệ sinh và bảo vệ môi trường nói riêng và cuộc sống nói chung.
Nội dung giáo dục phải gần gũi, thú vị giúp trẻ thích thú và tiếp thu tốt hơn. Thông qua bài học trẻ phải nhận biết được môi trường mình đang sống là sạch hay bẩn và nó có lợi hay có hại cho mình từ đó hình thành nên ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe.
Lý thuyết phải đi đôi với thực hành, vậy nên, nhà trường cần tạo mọi điều kiện để bé được trải nghiệm thực tế bằng cách tổ chức các buổi cho trẻ tham gia làm vệ sinh. Giáo viên phải giúp bé hình thành được ý thức tự giác giữ gìn môi trường sống như: vứt rác đúng chỗ, dọn dẹp khi bẩn, vệ sinh cá nhân sạch sẽ...
Nên hướng dẫn trẻ tái chế đồ vật để làm đồ chơi, dụng cụ học tập, ứng dụng trong gia đình… Điều này giúp bé hứng thú hơn với việc vệ sinh không gian sống đồng thời kích thích khả năng sáng tạo, tư duy của bé.
Bên cạnh đó, nhà trường cần kết hợp với phụ huynh để xây dựng thói quen và ý thức sống của trẻ tốt hơn. Hướng dẫn và động viên từ cha mẹ luôn là động lực và tấm gương tốt cho nếp sống của con.
Gia đình là “cái nôi” đầu tiên và có ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ, thái độ và hành vi của con trong mọi giai đoạn phát triển. Để giáo dục nâng cao ý thức vệ sinh môi trường nói chung và vệ sinh tại trường, lớp học nói riêng cho bé, mỗi người trong gia đình đều cần phải có trách nhiệm,
Nên noi gương cho bé bằng cách thực hiện các công tác vệ sinh nhà cửa thường xuyên. Xây dựng ý thức bảo vệ môi trường chung như không xả rác bừa bãi, không bứt lá, bẻ cành, hạn chế việc sử dụng túi ni lông...
Cha mẹ, ông bà nên hướng dẫn bé thực hiện những việc vệ sinh đơn giản tại nhà quét nhà, giúp đỡ người lớn dọn dẹp... Mỗi khi bé làm việc, dù tốt hay không cũng nên khuyến khích bé tiếp tục cố gắng. Nếu bé làm tốt, hãy khen ngợi bé để bé duy trì và phát huy điều đó.
Ngoài ra, gia đình cần phối hợp với nhà trường để thống nhất trong phương pháp dạy con. Ngoài quan tâm đến việc hôm nay trẻ ăn gì, cha mẹ cũng nên hỏi thăm bài học của bé để hỗ trợ việc học trên trường được tốt hơn.
Việc vệ sinh môi trường trong lớp học mầm non không chỉ dừng lại ở những nhóm công việc nhỏ và trách nhiệm cho từng bộ phận trong trường mà phải làm tổng thể và thường xuyên.
Tùy điều kiện và mục tiêu của mỗi trường mà ban giám hiệu có thể cân nhắc các biện pháp để có kế hoạch vệ sinh môi trường trong trường mầm non của mình một cách hiệu quả nhất
Việc các cán bộ nhân viên nhà trường và các bé thực hiện vệ sinh vừa giáo dục và giúp trẻ thực hành các hoạt động vệ sinh môi trường trong trường lớp, vừa tiết kiệm chi phí cho nhà trường. Tuy nhiên, đây không phải là một phương pháp tối ưu:
- Thứ nhất, trẻ mầm non còn quá nhỏ để ý thức được các mối nguy hiểm có thể xảy ra trong quá trình dọn dẹp vệ sinh. Việc này cũng ảnh hưởng đến việc học sức khỏe của trẻ khi phải tiếp xúc nhiều với bụi, nắng...
- Thứ hai, các cán bộ nhân viên phải dành nhiều thời gian cho việc vệ sinh và giữ gìn cho môi trường trong trường luôn sạch sẽ sẽ ảnh hưởng đến các công tác chính của mình như giảng dạy, y tế...
- Thứ ba, các cán bộ công nhân viên nhà trường cũng không được đào tạo về dọn vệ sinh chuyên nghiệp nên cũng khó đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh trường học cần đạt.
Các hoạt động vệ sinh môi trường ở trường học mầm non nhằm để giáo dục cho trẻ nên thực hiện thành các chủ đề, bài học và chỉ nên áp dụng trong một số chiến dịch ngắn hạn của trường giúp bé có những nhận thức tốt hơn.
Đây được xem là phương pháp vệ sinh trường học tốt nhất ở thời điểm hiện tại không chỉ riêng với trường mầm non. Sử dụng dịch vụ vệ sinh trường học chuyên nghiệp giúp đảm bảo môi trường học tập cho con. Bên cạnh đó, ý thức bảo vệ môi trường vẫn được lồng ghép vào các bài học và các con sẽ có thời gian tối đa cho việc học tập kiến thức.
NỘI DUNG 5: HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE CHO TRẺ EM TRONG NHÓM, LỚP.
I/ KHÁI NIỆMTrước đây sức khỏe thường được hiểu là tình trạng không mắc bệnh hoặc thương tật. Hiện nay theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì sức khỏe được hiểu như sau: Sức khỏe là trạng thái thoải mái về mặt thể chất , tâm thần và xã hội biểu hiện không chỉ là việc không mắc bệnh hoặc thương tật.
Như vậy có thể hiểu khái niệm sức khỏe có 3 yếu tố: thể chất, tinh thần và xã hội, cả 3 mặt trên đây của sức khỏe làm thành một thể thống nhất, tác động qua lại với nhau và cùng quan trọng như nhau
Cả ba mặt trên đây của sức khỏe là một trạng thái động.Trạng thái này không tự nhiên mà có, chúng được hình thành trong quá trình rèn luyện thường xuyên. Đây chính là khái niệm cơ bản về sức khỏe và là cơ sở để đề ra phương hướng đúng đắn trong việc chăm sóc sức khỏe con người cũng như trẻ của trẻ em.
II/ THEO DÕI THỂ LỰC VÀ ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG, SỨC KHỎE CHO TRẺ
1. CHỈ SỐ DÙNG ĐỂ THEO DÕI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ
Sự phát triển của trẻ được thể hiện qua các chỉ số:
- Chiều cao,
- Cân nặng,
- Vòng đầu,
- Vòng ngực,
- Vòng cánh tay
Trong đó 2 chỉ số chiều cao, cân nặng là 2 chỉ số cơ bản dễ theo dõi và đánh giá.
2. GIỚI THIỆU VỀ BIỂU ĐỒ THEO DÕI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ
Có 2 loại biểu đồ:
- Biểu đồ theo dõi cân nặng (kg) theo tuổi cho trẻ trai và trẻ gái riêng
- Biểu đồ theo dõi chiều dài nằm/ chiều cao (cm) đứng theo tuổi cho trẻ trai và trẻ gái riêng
3. MỘT SỐ ĐIỂM CẦN CHÚ Ý KHI THEO DÕI PHÁT TRIỂN THỂ LỰC CỦA TRẺ
- Nên cử 1 cô chuyên trách theo dõi sức khoẻ trẻ, cân đo và ghi biểu đồ ( nếu trường không có cán bộ y tế)
- Để có thể theo dõi, đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ và can thiệp kịp thời khicần
- Cân, đo trẻ định kỳ theo lứa tuổi
+ Trẻ dưới 12 tháng tuổi: cân đo trẻ mỗi tháng 1 lần
+ Trẻ 12- 24 tháng tuổi: cân mỗi tháng 1 lần và đo 3 tháng 1 lần
+ Trẻ 24-36 tháng: cân, đo 3 tháng 1 lần
+ Trẻ 3,4,5 tuổi: cân, đo 3 tháng 1 lần
- Cân và theo dõi hàng tháng những trẻ bị suy dinh dưỡng, trẻ thừa cân- béo phì. Trẻ bị ốm kéo dài, sức khoẻ giảm sút cần được kiểm tra cân nặng để đánh giá sự hồi phục sức khoẻ của trẻ
- Quy định một số ngày thống nhất cho các lần cân, đo ( nên đo vào thời điểm giữa tháng).
- Sau mỗi lần cân, đo cần ghi chép và chấm ngay lên biểu đồ để tránh quên và nhầm lẫn, sau đó đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho từng trẻ và thông báo cho gia đình
4. ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ
- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trên kết quả theo dõi biểu đồ cân nặng của trẻ.
- Đánh giá sự phát triển theo chỉ số chiều cao theo tuổi
LƯU Ý
Nếu giữa 2 lần cân,đo thấy kết quả bất thường về chiều cao, cân nặng của trẻ so với lần cân, đo trước (chiều cao, cân nặng tăng / giảm quá nhanh) thì kiểm tra lại xem thao tác cân, đo đã chính xác chưa
Link nội dung: https://itt.edu.vn/index.php/module-gvmn-9-a25870.html