Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi đang có kí hợp đồng cộng tác viên với 1 công ty tôi không muốn tham gia bảo hiểm xã hội liệu có được không?

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi thắc mắc đề nghị giải đáp luật tới Bộ phận luật sư giải đáp luật pháp của công ty Luật Vạn Tín. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:


Thứ nhất, đối với việc không ký hợp đồng làm việc giao kết hợp đồng bằng miệng hay việc ký bằng văn bản tại thông tin phía trên bạn không có nói rõ nên tôi sẽ đưa ra trường hợp giao kết bằng miệng.

Theo Điều 16 của Bộ luật lao động năm 2012 có quy định về hình thức hợp đồng lao động cụ thể như sau:

Điều 16. Loại hình hợp đồng lao động

1. Hợp đồng làm việc phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản hai Điều này.

2. Đối với công việc nhất thời có thời hạn dưới 03 tháng, 2 bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói.

Việc giao kết hợp đồng bằng miệng, lời nói có vi phạm pháp luật hoặc không, còn phải căn cứ vào loại hình, tính chất công tác. Nếu công việc của bạn là công tác theo mùa vụ hoặc công việc không cố định thì việc giao phối hợp đồng bởi văn bản là không có bắt buộc. Tuy vậy, nếu như công tác của bạn là công tác cố định, có thời hạn làm việc từ 03 tháng trở lên mà doanh nghiệp không có giao kết hợp đồng bởi văn bản với bạn thì trong trường hợp này, doanh nghiệp đang vi phạm luật pháp, có thể bị xử lý theo quy định tại Nghị định 95/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người làm việc Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng:


"1. Phạt tiền người sử dụng lao động khi có 1 trong các hành vi: không có giao kết hợp đồng làm việc bằng văn bản đối với công tác cố định có thời hạn trên 3 tháng; không có giao kết đúng loại hợp đồng lao động với người lao động theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật lao động theo 1 trong các mức sau đây:

a) Từ 500.000 đồng tới 2.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người tới 10 người lao động;

b) Từ 2.000.000 đồng tới 5.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người tới 50 người lao động;

c) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người tới 100 người lao động;

d) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 15.000.000 đồng tới 20.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên."

>>> Xem thêm: Tư vấn hợp đồng trong doanh nghiệp

Thứ hai, về việc ký hợp đồng cộng tác viên không có được hưởng quyền lợi như BHXH, BHYT.

Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng làm việc có thời hạn từ 03 tháng trở lên thì bắt buộc phải tham gia bảo hiểm xã hội. Vì thế mà tùy thuộc vào thời hạn hợp đồng làm việc mà bạn tham dự, theo ấy có thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hay không. Hơn thế nữa khi bạn tham dự hợp đồng cộng tác viên thì không bắt buộc phải đóng những loại bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp...


Thứ ba, về việc đóng thuế thu nhập cá nhân, thì căn cứ theo quy định ở Khoản hai, Điều 3, Luật thuế thu nhập cá nhân sửa đổi thêm vào năm 2014 thì thu nhập từ tiền lương, tiền công và những khoản có tính chất tiền lương, tiền công là một trong những thu nhập chịu thuế. Như vậy thì thu nhập hàng hóa tháng của bạn là đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân, mức khấu trừ là 10% thu nhập từ 2.000.000 trở lên ( điểm i, khoản 1, Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC).

Thứ tư, về việc có nên ký hợp đồng này không, thì đây là sự lựa chọn ở bạn, bạn nên cân nhắc về những quyền lợi và trách nhiệm của mình lúc tham gia hợp đồng hợp tác viên so với hợp đồng làm việc có thời hạn hoặc không có xác định thời hạn.

Hợp đồng được coi là một giao dịch dân sự và 2 bên có thể tự thảo thuận với nhau về nội dung, hình thức, cách thực hiện cũng như hình thức triển khai hợp đồng. Pháp luật không đặt ra quy định cấm giao kết hợp đồng bởi miệng nên người sử dụng lao động và người làm việc có thể tự thỏa thuận với nhau về việc giao kết hợp đồng lao động bởi lời nói chỉ cần đảm bảo sự tư nguyện,có lơi cho cả 2 bê thì luật Việt Nam không hề cấm

Trên đây là giải đáp của chúng tôi. Nếu như còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần giúp đỡ pháp lý khác bạn vui lòng liên lạc Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900 6558 để được trả lời.

CÔNG TY LUẬT VẠN TÍN

Địa chỉ: Số 7, đường số 14, Khu đô thị mới Him Lam, Phường Tân Hưng, Quận 7, TP Hồ Chí Minh.

Hotline: 1900 6558

Email: info@luatvantin.com.vn

MST: 0310701291

Website: http://luatvantin.com.vn