Trong bể lắng đứng nước chuyển động theo phương thẳng đứng từ dưới lên trên, cò tức là rn các hạt cặn rơi ngược chiều với chiều chuyển động của dòng nước từ trên xuống bồn chứa inox . Khi xử lý nước không dùng chất keo tụ, các hạt cặn có tốc độ rơi lớn hơn tốc độ dâng của dòng nước sẽ lắng xuống được. Còn các hạt cặn có tốc độ nhỏ hơn hoặc bằng tốc độ dâng của dòng nước, sẽ chỉ lơ lửng hoặc bị cuốn theo dòng nước lên phía trên bể.
Nắp tank inox vi sinh (Hình minh họa)

Khi sử dụng nước có dùng chất keo tụ, tức là trong nước có chứa các hạt cặn kết dính thì ngoài các hạt có tốc độ rơi ban đầu lớn hơn tốc độ rơi của dòng nước lắng xuống được, còn các hạt cặn khác cũng lắng xuống được. Nguyên nhân là do trong quá trình các hạt cặn có tốc độ rơi nhỏ hơn tốc độ của dòng nước bị đẩy lên trên nắp tank inox vi sinh , chúng đã kết dính lại với nhau và tăng dần kích thước, cho đến khi có tốc độ rơi lớn hơn tốc độ chuyển động của dòng nước sẽ rơi xuống. Như vậy lắng keo tụ trong bể lắng đứng có hiệu quả cao hơn nhiều so với lắng tự nhiên.
Tuy nhiên hiệu quả lắng trong bể lắng đứng không chỉ phụ thuộc vào chất keo tụ, mà còn phụ thuộc vào sự phân bố đều của dòng nước đi lên và chiều cao của vùng lắng phải đủ lớn thì các hạt cặn mới kết dính với nhau được.
Trong hệ thống xử lý nước thải tùy vào công dụng và vị trí mà bể lắng được chia ra như sau:
Sử dụng làm bể lắng sơ cấp: loại bỏ các chất hữu cơ không tan trong nước thải trước khi đưa nước thải vào công trình xử lý sinh học. Nếu thiết kế chính xác bể lắng sơ cấp có thể laoij được 50 – 70% chất rắn lơ lửng, 25 – 40% BOD của nước thải. Một số trường hợp khác, bạn có thể xem tại valve-world.net .
Sử dụng làm bể lắng thứ cấp: dùng để lắng các cặn vi sinh và bùn làm trong nước trước khi đưa ra nguồn tiếp nhận.